Not known Details About âm đạo giả

Le futur s éare likely vers l infini, très lointain Le moveé s envole hors de portée, pour de bon; Acclamons la vie qui éclôt si soudain À voir le sourire d adieu et de séparation.

Trước khi đi sâu vào việc tìm Helloểu những bản dịch Pháp của Chị Thanh-Tâm, tưởng cũng nên tìm Helloểu qua cái khó khăn của công việc dịch thuật.

Thông thường, trong các cuộc đàm luận về dịch thuật, người ta thường bảo nhau rằng để bản dịch bớt sai sót, người dịch phải có Helloểu biết về văn hoá của quốc gia làm chủ thứ tiếng của văn bản gốc. Chẳng hạn, để dịch nhóm chữ "Extraordinary Fellow", người dịch phải biết rõ các chức năng và trách vụ trong sinh hoạt hàn lâm của các học viện ở Anh quốc, chứ không thể tỉnh khô quăng ra nhóm chữ kỳ quặc "Người Bạn Khác Thường", như Nguyễn Quốc Trụ đã "dịch" ra Việt ngữ chức vụ của George Steiner tại Học Viện Churchill thuộc đại học Cambridge.

Vào cái thời chủ nghĩa thực dân đang cực thịnh, chuyện học tiếng Tây tiếng U chỉ là để "tồn tại", theo nghĩa của câu "bây giờ ông đổi lông ra sắt, cách kiếm ăn đời có nhọn không?" Nhìn rộng ra, cả một nền văn chương dịch thuật, hoặc "bảnh" hơn, viết văn bằng tiếng Tây tiếng U, trước đây, đều qui vào chuyện "cách kiếm ăn đời có nhọn không".

Viết hay/dở còn tùy vào cách dùng chữ, cách tỉnh lược, cách bố cục, ... và đặc biệt là ý tưởng. Người viết tiếng Anh/Pháp/Đức ... cũng chỉ dùng bao nhiêu đấy loại ngữ đoạn để diễn đạt ý tưởng. Tiếng Việt cũng có các loại ngữ đoạn ấy.

Một bài ngắn như thế của Emily Dickinson dịch còn khó hơn dịch cả một cuốn Lá Cỏ [Leaves of Grass] của Walt Whitman... Ấy bởi vì, nó thuộc loại thơ bất khả dịch diễn.

Cấu trúc trên là một loại cấu trúc tịnh (một thuộc tính của tính tịnh tiến trong tiếng Việt). Tịnh được hiểu là cấu trúc câu hỏi giống cấu trúc câu trả lời. Cụ thể, chỉ cần thế vào vị trí từ nghi vấn “gì” bằng một từ xác định nào đó như “phạt”, “bệnh”, .

Thật ra, có lẽ đa số người Việt có hiểu biết căn bản về văn hóa Ðông Á đều hiểu ngay "the sixty-four hexagrams" là "lục thập tứ quái", hay dễ Helloểu hơn, là "sáu mươi tư quẻ sáu vạch". Từ "sáu mươi tư quẻ sáu vạch" ở Ðông Á, chạy sang tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh thành "los sesenta y cuatro hexagramas" và "the sixty-four hexagrams", thì chẳng có gì rắc rối.

Hỏi tiếp: ... ngọn núi nào/ở đâu. Cuối cùng là câu trả lời: Người ta thấy một ngọn núi ở đằng xa.

Đọc đã vậy, nhưng chưa nguy hiểm bằng dịch. Không chỉ chết ở trong hồn một tí, mà có khi còn mất tiêu luôn linh hồn. Theo nghĩa đó, ở một chỗ khác, George Steiner khẳng định, "Không thể có dịch thuật, ngoại trừ âm đạo giả bán ở đâu dưới điều kiện khủng hoảng tri thức luận.

Hiện hữu có trước yếu tính. Tồn tại trước đã, kỳ dư là văn chương (tout le reste est littérature), như người Tây nói. Thành thử công đầu lại vẫn ở những bậc tiền bối như Trương Vĩnh Ký, hay những thầy thông, vào cái thời chữ Nho mới là chữ của nước.

Điều này hết sức quan trọng, vì khi người đọc tiếp thu cái sai, nó sẽ tiếp tục lây lan như bịnh dịch, làm tiếng Việt càng bịnh thêm.

Cái khó khăn của ngôn ngữ Việt Nam là có những chữ đồng âm mà dị nghĩa, nếu người dịch không thông suốt thấu đáo ngôn ngữ của bài thơ nguyên tác, thì e rằng có nhiều sai lầm đáng tiếc xảy ra. Tôi chỉ xin đơn cử một vài ví dụ mà tác giả Nguyễn Quảng Tuân đã nêu ra về " Những sai lầm trong quyển tự điển J.

Như thế, Borges cho biết rõ rằng ông viết hai câu thơ trên khi đang nghĩ đến Kinh Dịch. Tôi ngờ rằng Nguyễn Quốc Trụ không biết "The Ebook of Variations", hay "I Ching", tức là Kinh Dịch, và có lẽ ông cũng chưa hề đọc Kinh Dịch hay bất cứ sách nào về Kinh Dịch, nên ông mới bạo gan sáng tác một nhóm chữ vô nghĩa là "hình sáu điểm sáu mươi-bốn" để dịch nhóm chữ "the sixty-four hexagrams".

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *